Người chưa bao giờ thấy biển

 


 

Người chưa bao giờ thấy biển

ebook Người chưa bao giờ thấy biển

tác giả ; J. M. G. Le Clézio
chuyên mục ;SÁCH TRUYỆN – TIỂU THUYẾT

Chi Tiết Sách Giấy


Download ebook

PDF   EPUB    MOBI    azw3

 

 


Thông tin sách ebook

Người chưa bao giờ thấy biển

JEAN-MARIE GUSTAVE LE CLÉZIO, một trong những nhà văn lọt vào danh sách để xét giải Nobel văn học năm 1999, đã thành danh từ khá sớm. Những năm 60 của văn học Pháp là những năm khó khăn với các cuộc tìm tòi thí nghiệm, những quan niệm mới và những khuynh hướng mới. Chính vào thời kỳ ấy, cụ thể là vào năm 1963, “một chàng trai trẻ, cao lớn, đẹp trai, có mái tóc vàng”, ít nói, đã “trình làng” với cuốn tiểu thuyết Biên bản (Le Procès – verbal), in tại Gallimard, một nhà xuất bản lớn hàng đầu, có uy tín ở Pháp. Cuốn tiểu thuyết lập tức thu hút sự chú ý của bạn đọc cũng như giới phê bình không những vì nó đoạt giải thưởng Renaudot, mà chủ yếu vì nó đã đặt ra nhiều vấn đề lý thú cho thể loại tiểu thuyết dường như đang ngắc ngoải. Thế là, mặc dầu anh còn quá trẻ (23 tuổi) để thành tên tuổi, người ta vẫn cứ “xếp hạng” và anh “có chỗ” trong làng văn Pháp đương đại đang khá là nhốn nháo. Tính đến nay, cầm bút được hơn 30 năm, Le Clézio đã có 47 đầu sách gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận và dịch thuật, trong đó có 4 cuốn viết chung. Ðó là chưa kể đến rất nhiều bài viết ông đăng trên các tạp chí, các báo… và hoạt động giảng dạy của ông ở các trường đại học tại Pháp, Mỹ, Mexique, Thái Lan.

Bảo vệ xuất sắc khoá luận cao học về H.Michaux vào năm 1964, sau đó Le Clézio bảo vệ luận án tiến sĩ về Lautréamont. Le Clézio và những tác phẩm của ông đã là đề tài nghiên cứu của 21 cuốn sách và 29 luận án cao học và tiến sĩ (riêng ở Nice, thành phố quê hương ông có 7 luận án). Năm ông 49 tuổi (1989) tạp chí Sud đã ra số chuyên san về sự nghiệp sáng tác của ông. Năm 1994, tạp chí Lire mở cuộc điều tra xã hội học với câu hỏi “Ai là nhà văn Pháp ngữ lớn nhất trong số hiện đang còn sống?” đã có 13% độc giả trả lời đó là Le Clézio.

Cùng một số nhà văn khác, Le Clézio đã làm cho bức tranh toàn cảnh của văn học Pháp thế kỷ XX đỡ màu ảm đạm: “Suốt cả thế kỷ, người ta nói đến “cái chết của văn học”, bị giết bởi báo chí, điện ảnh, truyền hình, những trò giải trí đại chúng v.v… Vậy mà, nó không chết. Người ta viết và công bố nhiều hơn. Thành công của những tác phẩm cách tân, những tác phẩm hay và có giá trị (chúng đa dạng biết bao) của Claude Simon hay Marguerite Duras, của Jean-Marie Gustave Le Clézio hay Georges Perec đã làm cho chúng ta trở nên lạc quan”.

Thói quen của các ngòi bút phê bình nghiên cứu hay dẫn chúng ta đến việc “xếp loại” “sắp đặt” các nhà văn ngồi chỗ này, chỗ kia… hoặc thuộc trường phái này, khuynh hướng nọ… Đối với Le Clézio và các sáng tác của ông, việc này quả là không dễ dàng (có thể nói là không thể). Bởi vì, hình như ông thuộc về nhiều trường phái và hình như cũng chẳng thuộc về khuynh hướng nào cả.

Cuốn tiếu thuyết đầu tay xuất hiện khi ông còn rất trẻ đã khiến người ta xếp ông vào “chủ nghĩa hiện thực mới”. Có lẽ đó là một cách nói để làm rõ vấn đề và để đối sánh với các khuynh hướng “Tiểu thuyết Mới” “Phê bình mới” đang rất rầm rộ lúc đương thời. Vậy thì “Chủ nghĩa hiện thực mới” của Le Clézio không phải như chủ nghĩa hiện thực thời Balzac. Muốn hiểu cho rõ ngọn ngành vấn đề này, ta không thể nói trong phạm vi một hoặc vài trang giấy. Để tham khảo, chúng tôi chỉ xin nêu ở đây ý kiến của các tác giả trong cuốn Văn học Pháp từ 1945 đến 1968. Khi viết về Le Clézio họ đã dùng một cái tít lạ thường “Cách viết địa chấn học” (Une écriture sismographique). Đó là cách viết tuân theo quy luật tự nhiên, ghi theo kiểu máy đo độ rung của trái đất, ghi lại “những độ rung nhỏ nhất của những điều nhạy cảm, đem lại sự sống náo nhiệt của thế giới”. Bởi vì theo Le Clézio, thế giới vô cũng sống động. Trong tiểu luận Thế giới sống động ông đã viết: “Đây chính là điều cần phải làm: đi về nông thôn, như một họa sĩ đi vào ngày chủ nhật, cùng với một tờ giấy lớn và bút chì. Hãy chọn một nơi thanh vắng, một thung lũng xung quanh là đồi núi, ngồi trên mỏm đá và ngắm nhìn thật lâu xung quanh mình. Và rồi, khi đã nhìn thật kỹ, cầm lấy giấy, và miêu tả bằng chữ những gì ta đã thấy”. Đó là đoạn mở đầu tác phẩm. Đọc tiếp những câu cuối, ta có cảm giác như là “nghệ thuật thơ ca” của Le Clézio, một quan niệm thật giản dị: “Đó. Thế giới sống động như thế, trong những tiếng động nhỏ xíu, những cú trượt, tiếng rả rích của dòng nước. Trong những lùm cây, trong hang động, trong đám cây cối chằng chịt, rối rắm, thế giới hát ca, cùng ánh sáng hoặc bóng tối, nó sống một cuộc sống nổ tung, không ngừng nghỉ, đầy tai biến và chết chóc. Cần phải sống cùng nó, như thế, hàng ngày, nằm áp má xuống đất, tai nghe ngóng, sẵn sàng lắng nghe tất cả những tiếng ồn ào và tất cả những tiếng thì thầm. Dây thần kinh cắm sâu vào đất như rễ cây và tự nuôi dưỡng bằng sức mạnh quật khởi khó mà hiểu nổi; cần phải uống thật lâu ở suối nguồn của sự sống và cái chết, rồi sẽ trở thành vô địch không ai thắng nổi”.

Xét về mặt nội dung các tiểu thuyết của Le Clézio đều có thể kể được, có nhân vật, cùng với các “phụ tùng” của nó: Adam Polo trong cuốn Biên bản (1963), Franois Besson trong Cơn hồng thủy (Le déluge, 1966), cô gái Lalla trong tiểu thuyết Sa mạc (Désert, 1980), tác phẩm đoạt Giải Lớn Paul Morand, Alexis trong Người tìm vàng (Le chercheur d’or, 1997) v.v… Có vẻ như những lời tuyên ngôn hùng hồn của N. Sarraute trong tác phẩm nổi tiếng Thời đại hoài nghi cùng các quan điểm cách tân táo bạo của Tiểu thuyết Mới hầu như chẳng thấy có khúc xạ nào qua sáng tác của Le Clézio.

Chính bản thân ông từng kể lại: “Khi tôi đưa bản thảo tiểu thuyết đầu tay của tôi đến Nhà xuất bản Gallimard, tôi đã nói rõ rằng tôi không có quan hệ gì với Tiểu thuyết Mới”. Thế nhưng, không phải hoàn toàn không có những điểm tương đồng nào đó giữa ông và các nhà Tiểu thuyết Mới. Thậm chí người ta còn tìm thấy sự tiếp nhận những tư tưởng từ Roland Barthes trong Lời tựa cho cuốn sách thứ hai của ông có tên là Cơn Sốt.

Trong một cuộc phỏng vấn P.Lhoste có nói với Le Clézio về những từ được lặp đi lặp lại trong các tác phẩm của ông. Nhà văn đồng ý với nhận định đó và cho rằng đó “là những điểm mốc” để có thể khẳng định là mỗi người đều có một “huyền thoại cá nhân” (mythologie personelle). Ðề cập đến vấn đề này có thể Le Clézio có liên hệ gì đó với khái “huyền thoại cá nhân” (mythe personnel) của Ch.Mauron, nhà phê bình phân tâm học đã nhấn mạnh đến việc nghiên cứu quá trình vô thức trong sáng tạo của nhà văn.

Cũng trong cuộc nói chuyện ấy, Le Clézio đã gợi lên sự hàn gắn giữa nhà văn và thầy phù thủy. Cả hai đều có một “thao tác ma thuật”, có một “mã” (code) và những ký hiệu để “hành nghề”, tất nhiên là những ký hiệu khác nhau, thầy phù thuỷ với những ký hiệu của cây lá, của rắn… nhà văn với “những ký hiệu chính xác của từ ngữ gắn bó với các hình ảnh đặc biệt sẽ cho phép độc giả thực hiện thao tác có tính chuyển đổi thành một hiện thực khác, cao hơn”. Nghe đến những “ký hiệu”, đến “mã”, chúng ta có cảm giác như lại sắp bước sang một lĩnh vực khác…

Là một người đọc rất nhiều, ngay từ đầu Le Clézio đã quan tâm đến những vấn đề thuộc lý luận văn học. Ở Lời tựa với hình thức như một bức thư nho nhỏ gửi đến bạn đọc trong tiểu thuyết Biên bản, nhà văn đã dành nhiều dòng cho độc giả, một nhân tố tạo thành quan trọng được chú ý đặc biệt ở văn học thế kỷ XX với tư cách là người tiếp nhận. Ngay cách viết Lời tựa với hình thức hoàn toàn như một bức thư gửi đến bạn đọc có lẽ cũng là một cách để nói rõ thêm quan điểm này của nhà văn.

Như vậy có thể thấy một quan niệm mở của Le Clézio, chấp nhận cùng lúc mọi lối biểu hiện của thực tiễn sáng tác văn học đa dạng và phong phú. Đó là xét về mặt lý luận, còn trong sáng tác, nhà văn đã thể hiện điều đó, trước hết trong tiểu thuyết. Về mặt hình thức được trình bày trên trang giấy, bản thân các tiểu thuyết của ông không phải toàn các con chữ bình thường theo lối viết xưa nay. Văn bản được gài xen vào đủ thứ: từ các bức họa, các công thức toán, lý, hoá, các con số, các đoạn thơ, nhật ký, các mẩu quảng cáo, các mẩu báo chí (có khi được in ở giữa những trang đầu hoặc cuối), có cả những đoạn chữ bị xóa vẫn còn nguyên dấu gạch chéo X… Với cách đó, dường như ông đã thu hẹp lại khoảng cách giữa hư cấu và hiện thực. Hiện thực tràn vào trang giấy bằng của bản thân nó, chứ không phải bởi uy quyền tối cao và độc đoán của nhà văn. Các sáng tác của Clézio vào những năm đầu thể hiện rõ điều này; Biên bản (1963), Cơn hồng thủy (1966), Những người khổng lồ (Les géants, 1973)… Thậm chí có những đoạn tác giả còn để nguyên tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc xen lẫn giữa toàn bộ văn bản bằng tiếng Pháp. Những tiếng vọng đến từ xa được thể hiện thành nhiều con chữ trên mặt giấy: i i i i i i i i i i i…, woou woou woou…, hom! hom!, hom!, hom!, hom!, v.v…

Ðọc tiểu thuyết của Le Clézio chúng ta thấy ông một mặt vẫn ràng buộc với tiểu thuyết truyền thống qua những đặc điểm cơ bản nhất, mặt khác, ông đã tạo ra một lối của riêng mình. Điều đó được thể hiện không chỉ ở việc làm “vỡ tung” văn bản, thay đổi hình thức trình bày của nó, mà chủ yếu là “việc xâm nhập các thể loại trong tác phẩm” của ông, Trong tiểu thuyết của ông có cả thơ, có tiểu luận, có sử thi, huyền thoại cả cổ tích.

Việc tồn tại cũng lúc nhiều thể loại trong tiểu thuyết của Le Clézio đã tạo nên con đường đi khá độc đáo trong quá trình sáng tạo của nhà văn. Chính ông đã từng phát biểu: “Đương nhiên, là các thể loại văn học có tồn tại, nhưng chúng chẳng quan trọng lắm, chúng chỉ là những cái cớ. Không phải là khi muốn viết tiểu thuyết là người ta liền sáng tạo ra nghệ thuật. Không phải là khi người ta gọi cuốn sách của người ta là “thơ” thì người ta trở thành nhà thơ. Chính là khi người ta viết, cho bản thân mình và cho người khác, không có mục đích nào khác ngoài việc trở thành chính mình, lúc đó người ta sẽ đạt được nghệ thuật”. Ðó là những lời tâm sự của ông năm 1967 để rồi trong suốt mấy chục năm cầm bút, ông nhắc lại không chỉ một lần về cái đích sáng tạo của mình. “Tôi cho rằng thật khó khăn tự nhận biết mình và tôi viết để nhận ra mình một cách chính xác và đồng thời hiểu những người khác” (Trong một cuộc nói chuyện với P.Lhoste năm 1971). Và trong một cuộc phỏng vấn của Vantroys năm 1994: “… tôi nhận ra rằng giờ đây tôi viết vì một lý do khác. Thực chất, tôi viết để thử nhận biết tôi là ai. Để tìm đến một cuộc phiêu lưu”.

Trong mấy chục năm cầm bút, Le Clézio không chỉ nổi tiếng với các cuốn tiểu thuyết. Truyện ngắn của ông cũng có những dấu ấn riêng. Đặc biệt cuốn Mondo và các truyện khác xuất bản năm 1978 có thể được coi là một trong những cột mốc quan trọng trong quá trình sáng tác của ông. Đồng thời, về nhiều mặt, nó vẫn liền mạch với các tác phẩm trước và sau đó qua việc thể hiện một cách độc đáo của nhà văn về chủ đề trẻ em.

Đôi khi chúng ta cảm thấy thật khó tưởng tượng ra hình ảnh của nhà văn “bác học” (một tiến sĩ văn chương, giảng viên của nhiều trường Đại học Âu – Mỹ văn mình hiện đại lại gắn liền với một thế giới nhân vật trẻ em lang thang “bụi đời” như trong tập Mondo và các truyện khác hoặc một số sáng tác khác của ông.

Tất cả các câu chuyện trong cuốn Mondo và các truyện khác đều đề cập đến trẻ em, những trẻ khác thường, so với độ tuổi ngây thơ của chúng càng dị thường hơn khi đặt chúng vào trong một xã hội hiện đại văn minh, tiên tiến. Chúng đều giống nhau ở địa vị ngoài lề xã hội, nhưng lại là những kẻ mộng mơ, đắm mình trong thiên nhiên, với đồi núi, sông suối, biển, trời, với ngàn sao, với ánh sáng của buổi trời đang rạng, ánh sáng ban ngày, ban đêm, ánh rực rỡ của mặt trời đang buổi ban trưa… Đó là Mondo lang thang không gia đình và cũng không thích ai hỏi về chuyện ấy; là Daniel, một cậu bé kì dị, chẳng thèm nghe khi người ta nói chuyện về biển vì cậu còn chìm đắm trong những tưởng tượng về biển theo kiểu của cậu, “một kiểu biển khác”, không giống của mọi người; còn cô bé Petite Croix lại thích ngồi một mình, gần như bất động hàng giờ giữa lúc trời nắng gắt để chờ đợi câu trả lời chính xác của câu hỏi đã ám ảnh cô bé từ năm nào qua năm khác: “Màu xanh da trời là gì?”…

Dường như ở nhân vật Mondo tập trung tốt cả đặc điểm của những nhân vật trẻ em trong tập truyện ngắn. Như mọi đứa trẻ bình thường trong xã hội hiện đại, nó rất thích xem truyện tranh, đến mức dù mù chữ, nó vẫn có thể đọc theo kiểu của nó. Không gia đình, không cha mẹ, không ai chăm sóc, lang thang, sống như bụi đời, nhưng nó lại có cách cư xử của kiểu người có giáo dục. Nó bị săn đuổi như những con chó hoang nhưng lại thừa khôn ngoan để lẩn tránh những luật lệ của xã hội hiện hành. Bị xếp ngoài lề xã hội, phải bươn chải tự kiếm sống, từng bị đói, nhưng Mondo lại là chú bé có cuộc sống nội tâm phong phú: thích thú với những câu chuyện phiêu lưu, nó biến các công chức Bưu điện về hưu thành người kể chuyện như thuở xa xưa, nó say mê những con chim mòng biển tự do chao mình bay lượn, yêu màu sắc cũng như dáng bay giữa bầu trời mênh mông của con diều giấy có hình cánh bướm, thích thú chiêm ngưỡng vẻ đẹp và sức mạnh của dòng nước tưới đường.

Nếu chỉ dừng ở đây, chúng ta có thể nói Le Clézio đã xây dựng thành công một thế giới nhân vật trẻ em đặc biệt và thú vị. Nhưng có lẽ không chỉ có vậy. Qua nhân vật Mondo và các nhân vật trẻ em khác, nhà văn muốn gửi gắm tới bạn đọc nhiều hơn thế. Ngay tên gọi Mondo đã gợi ý cho ta nhiều điều. Thoạt đầu, Mondo làm chúng ta liên tưởng tới từ monde, trong tiếng Pháp có nghĩa là “thế giới”, “thiên hạ”… Bản thân cậu bé Mondo trong truyện cũng có mối liên hệ rất rộng bởi cuộc sống nay đây mai đó đã khiến cậu gặp gỡ với nhiều hạng người, từ nhiều chân trời khác nhau trên trái đất. Theo một nhà nghiên cứu Pháp, Mondo thực ra là một từ tiếng Nhật dùng để chỉ cuộc đối thoại khi giảng dạy về Thiền. Và chắc sẽ rất thú vị nếu chúng ta có điều kiện nghiên cứu cuộc đối thoại của chú bé Mondo với cuộc đời qua câu hỏi thường xuyên của cậu với những người qua đường: “Ông bà có muốn nhận cháu làm con nuôi không ạ?” cùng rất nhiều câu hỏi khác. Còn trong truyện, theo cách dạy chữ cái của ông già trên bãi biển, tên Mondo khi ghép lại trở thành những hình ảnh hết sức thú vị và độc đáo: “Có một ngọn núi, một ông trăng tròn, có ai đó chào trăng lưỡi liềm và lại có một ông trăng nữa”. Và chẳng biết có phải ngẫu nhiên không khi có nhiều trăng đến thế trong tên của cậu bé Mondo? Còn khi Mondo thích các chữ O, I, T, Z, V, W chính là bởi O và Z tượng trưng cho ánh sáng còn I, T, V là sự vận động không ngừng, là các chuyến viễn du đầy mơ ước, tìm đến những chân trời xa, những điều tốt đẹp nhất.

Nhân vật của Le Clézio như là lời thông điệp của ánh sáng, của ước mơ, của vẻ đẹp trần thế khi con người còn có thể mơ ước, kiếm tìm không mệt mỏi. Thoát ra ngoài những bức tường bê tông xám xịt, những tòa nhà cao ốc thiếu ánh sáng mặt trời, những máy móc vô tri vô giác, con người có thể làm phong phú cuộc sống của mình bằng một hiện thực sống động hồn nhiên, đầy cảm xúc, đầy tính nhân văn.

 

mời bạn đón đọc ebook

có thể bạn sẽ thích sách ebook này

Ebook HAI VẠN DẶM DƯỚI BIỂN

có thể bạn muốn đọc